1.6. Đặc điểm của khoa học quản lý 1.6.1. Khoa học quản lý có tính ứng dụng cao Khoa học quản lý không dừng lại ở mức độ nhận thức thế giới mà chủ yếu phải tìm ra con đường để cải tạo đối tượng khách quan, xây dựng các nguyên lý, nguyên tắc, tìm kiếm những ứng dụng mới thích hợp, sát hợp thực tế, trước hết tạo ra cơ chế tác động phù hợp với đối tượng và khách thể quản lý. Việc nghiên cứu và đề ra nguyên lý quản lý là cần thiết. Song khoa học quản lý còn phải chỉ ra cho người quản lý biết vận dụng nguyên lý đó vào từng điều kiện cụ thể. Sẽ là sai lầm nếu chỉ biết áp dụng một cách máy móc, rập khuôn các nguyên lý quản lý, các cơ chế chính sách chung nhất - thành tựu mà loài người đạt được - mà vấn đề là phải biết học tập, biết vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia, mỗi địa phương, mỗi vùng. 1.6.2. Khoa học quản lý là khoa học xã hội - hành vi Khoa học quản lý hướng vào nghiên cứu về con người và mối quan hệ tác động giữa con người với con người, trong đó đặc biệt quan tâm tới cơ sở và động lực của hành vi con người. Làm thế nào để kết nối con người trong một tổ chức nhằm thúc đẩy mọi hoạt động đáp ứng yêu cầu và đạt mục tiêu đề ra? Làm thể nào để tối ưu hóa những nỗ lực của các cá nhân trong một tổ chức ở những vị trí, nhiệm vụ khác nhau vì mục tiêu chung và trong những bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa khác nhau... Đó là những vấn đề đặt ra cho khoa học quản lý. 1.6.3. Khoa học quản lý là khoa học có tính liên ngành, liên bộ môn Xuất phát từ tính tổng hợp trong lao động quản lý, khoa học quản lý là một khoa học liên ngành. Trong quá trình phát triển của mình, khoa học quản lý đã kết hợp với nhiều môn khoa học khác, sử dụng những luận điểm và thành tựu của các khoa học để giải quyết nhiều vấn đề của lý luận và thực tiễn quản lý. Khoa học quản lý có quan hệ với nhiều lĩnh vực tri thức của các khoa học khác, coi các khoa học chung (triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học) là cơ sở lý luận và phương pháp luận. Khoa học quản lý có quan hệ mật thiết và hữu cơ với khoa học tự nhiên, khoa học xã hội - nhân văn và các khoa học hành vi. Khoa học quản lý có quan hệ với các khoa học quản lý chuyên ngành. Khoa học quản lý đóng vai trò là cơ sở lý luận và phương pháp luận cho các khoa học quản lý chuyên ngành. Thành tựu của các khoa học quản lý chuyên ngành góp phần làm cơ sở để khoa học quản lý khái quát những nguyên lý, lý luận quản lý. Khoa học quản lý sử dụng nhiều luận điểm và kết quả nghiên cứu của các môn khoa học xã hội nghiên cứu về con người như Xã hội học, Tâm lý học, Giáo dục học, Luật học, Thể dục thể thao v.v... 1.6.4. Khoa học quản lý vừa có tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật a. Tính khoa học trong quản lý Khoa học quản lý là hệ thống các tri thức lý luận bao gồm các khái niệm, phạm trù, các quy luật, các nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản lý cần thiết. Quản lý có tính khoa học
1.6. Đặc điểm của khoa học quản lý 1.6.1. Khoa học quản lý có tính ứng dụng cao Khoa học quản lý không dừng lại ở mức độ nhận thức thế giới mà chủ yếu phải tìm ra con đường để cải tạo đối tượng khách quan, xây dựng các nguyên lý, nguyên tắc, tìm kiếm những ứng dụng mới thích hợp, sát hợp thực tế, trước hết tạo ra cơ chế tác động phù hợp với đối tượng và khách thể quản lý. Việc nghiên cứu và đề ra nguyên lý quản lý là cần thiết. Song khoa học quản lý còn phải chỉ ra cho người quản lý biết vận dụng nguyên lý đó vào từng điều kiện cụ thể. Sẽ là sai lầm nếu chỉ biết áp dụng một cách máy móc, rập khuôn các nguyên lý quản lý, các cơ chế chính sách chung nhất - thành tựu mà loài người đạt được - mà vấn đề là phải biết học tập, biết vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia, mỗi địa phương, mỗi vùng. 1.6.2. Khoa học quản lý là khoa học xã hội - hành vi Khoa học quản lý hướng vào nghiên cứu về con người và mối quan hệ tác động giữa con người với con người, trong đó đặc biệt quan tâm tới cơ sở và động lực của hành vi con người. Làm thế nào để kết nối con người trong một tổ chức nhằm thúc đẩy mọi hoạt động đáp ứng yêu cầu và đạt mục tiêu đề ra? Làm thể nào để tối ưu hóa những nỗ lực của các cá nhân trong một tổ chức ở những vị trí, nhiệm vụ khác nhau vì mục tiêu chung và trong những bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa khác nhau... Đó là những vấn đề đặt ra cho khoa học quản lý. 1.6.3. Khoa học quản lý là khoa học có tính liên ngành, liên bộ môn Xuất phát từ tính tổng hợp trong lao động quản lý, khoa học quản lý là một khoa học liên ngành. Trong quá trình phát triển của mình, khoa học quản lý đã kết hợp với nhiều môn khoa học khác, sử dụng những luận điểm và thành tựu của các khoa học để giải quyết nhiều vấn đề của lý luận và thực tiễn quản lý. Khoa học quản lý có quan hệ với nhiều lĩnh vực tri thức của các khoa học khác, coi các khoa học chung (triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học) là cơ sở lý luận và phương pháp luận. Khoa học quản lý có quan hệ mật thiết và hữu cơ với khoa học tự nhiên, khoa học xã hội - nhân văn và các khoa học hành vi. Khoa học quản lý có quan hệ với các khoa học quản lý chuyên ngành. Khoa học quản lý đóng vai trò là cơ sở lý luận và phương pháp luận cho các khoa học quản lý chuyên ngành. Thành tựu của các khoa học quản lý chuyên ngành góp phần làm cơ sở để khoa học quản lý khái quát những nguyên lý, lý luận quản lý. Khoa học quản lý sử dụng nhiều luận điểm và kết quả nghiên cứu của các môn khoa học xã hội nghiên cứu về con người như Xã hội học, Tâm lý học, Giáo dục học, Luật học, Thể dục thể thao v.v... 1.6.4. Khoa học quản lý vừa có tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật a. Tính khoa học trong quản lý Khoa học quản lý là hệ thống các tri thức lý luận bao gồm các khái niệm, phạm trù, các quy luật, các nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản lý cần thiết. Quản lý có tính khoa học
Created using ChatSlide
Mô tả các ứng dụng cao và hướng đến thực tiễn trong quản lý, nghiên cứu hành vi con người và kết nối giữa các ngành khoa học. Nội dung bao gồm việc vận dụng sáng tạo, nghiên cứu quan hệ tác động, và kết hợp triết học với kinh tế xã hội. Từ đó, tạo ra động lực và tối ưu hóa quy trình quản lý, đồng thời đảm bảo tính linh hoạt và hiệu quả trong các hoạt động chuyên môn.